Tổng số Online: 178082
 Trang chủ  Tin tức  Diễn đàn  Album  Liên kết  FAQ  Đăng nhập

Nhân chứng cuối cùng của huyền thoại núi Đại Huệ

Tháng 5, trời Nam Đàn xanh vời vợi. Đường lên khu mộ bà Hoàng Thị Loan, thân mẫu Chủ tịch Hồ Chí Minh, trên núi Động Tranh (người dân địa phương gọi là rú Trác) thuộc dãy núi Đại Huệ, tấp nập khách hành hương.

Chi tiết

Lời Sấm đất Nam Đàn

Núi Đụn nằm trong phạm vi 2 xã Đông Liệt (nay là xã Nam Thái) và Khả Lãm (nay là xã Nam Thượng), ở phía tây – bắc huyện, cạnh đường quốc lộ 46 Vinh – Đô lương, cách huyện lỵ Nam Đàn khoảng 3 km. Núi cao khoảng 300m, sườn núi dốc thoai thoải, cây cối xưa kia nhiều, nay không còn mấy. Núi có rào Gang vòng ở phía Bắc và sông Lam vòng ở phía Nam. Cách ngày nay khoảng trên dưới 300 năm, núi bỗng nhiên nứt ra làm đôi, vết nứt dài đến mấy trăm mét và sâu đến dăm, bảy chục mét. Dưới chân núi là Vệ An, thành lũy xưa của Mai Hắc Đế chống quân nhà Đường hồi đầu thế kỷ 8. Hiện nay ở chân núi còn có mộ và đền thờ ông trong một cảnh quan sơn thủy hữu tình.

Chi tiết

Phan Bội Châu

Phan Bội Châu (tên cũ là Phan Văn San), hiệu Hải Thụ, sau lấy hiệu là Sào Nam (và nhiều bút danh khác) sinh ngày 26/12/1867, quê ở làng Đan Nhiễm (nay là xã Xuân Hòa, huyện Nam Đàn, Nghệ Tĩnh) Lúc nhỏ, ông nổi tiếng thông minh. Sáu tuổi đã thuộc hết Tam tự kinh, bẩy tuổi đã hiểu kinh truyện, mười ba tuổi, đi thi ở huyện đỗ đầu. Mười sáu tuổi, đỗ đầu xứ, nên cũng gọi là đầu xứ San.

Chi tiết

TÀI ỨNG KHẨU CỦA BÁC

Bác là một lãnh tụ, nhưng khi hoà mình với nhân dân, không chỉ bằng những lời giáo huấn đơn điệu, mà là sự kết hợp hài hoà giữa tác phong quần chúng, những lời nói bình dị, dễ hiểu và khả năng gây cười, sự dí dỏm tự nhiên. Phản xạ, ứng đáp nhanh nhạy trước mọi tình huống ở Bác có nét đặc trưng riêng, đã trở thành thói quen phù hợp với từng đối tượng tiếp nhận, thích ứng với mọi hoàn cảnh xung quanh.

Chi tiết

HỒ TÔNG THỐC

Ông tổ của một chi nhánh họ Hồ đến đất Tam Công thuộc tổng Quì Trạch (xã Thọ Thành bây giờ), huyện Yên Thành để đắp đê, khơi khô một vùng lòng chảo luôn ngập nước, trở thành một cánh đồng lúa mênh mông là Hồ Cao. Sự kiện này xảy ra vào đời Trần Minh Tông (1314 - 1329). Chính nơi đây, vào cuối đời Trần đã để lại cho Nghệ Tĩnh ba Trạng nguyên. Đó là Hồ Tông Thốc, Hồ Tông Đốn và Hồ Tông Thành. Hồ Tông Thốc lúc niên thiếu, hỏi giỏi có tài, đi thi rất sớm, tiếng đồn hay chữ vang dậy cả một vùng. Khi ở kinh thành, một số quan lại có đặt lệ bình văn. Một lần, Hồ Tông Thốc đến dự. Trong khi bao người khác còn loay hoay suy nghĩ, gại bút thì ông cắm cổ viết, ý văn chảy như suối, làm một lúc được một trăm bài thơ hay. Các quan xúm lại xem. Khi bình lên, mọi người đều phải thán phục. Từ đấy, tiếng tăm chấn động cả kinh thành. Ông đỗ Trạng nguyên đời Trần Nghệ Tông (1372). Đời vua Phế Đế, hiệu Xương Phù năm thứ 10, ông làm quan Thừa chỉ kiêm Trung thư lệnh, Thẩm hình viện sứ, Đông các đại học sĩ, tước Đường quận công, đã có lần đi sứ Trung Quốc. Sau đây là một vài giai thoại về ông.

Chi tiết

 Về đầu trang