| | Đang
tải... | | |
|
| |
| | | | |
Hát phường vải là một loại hình văn học dân gian đặc biệt của tỉnh Nghệ An nói chung và huyện Nam Đàn nói riêng – là lối hát của những cô gái dệt vải. Nhiều xã thuộc huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An có nghề dệt vải. Trong lúc đưa thoi, dệt vải, các cô thường hát với các cậu trong làng tới hát đối hoặc hát tỏ tình, hát đố, hát thử tài. Ngành dệt vải khá sung túc, nên các cô thường được đi học với các thầy đồ. Vì vậy trong vùng phường vải có nhiều thầy giáo và chính họ tham gia các buổi hát đối trong vai thông sự để nhắc lời cho mấy cô phá lại các cậu tới thử tài. Vào những dịp nông nhàn, trong những đêm thời tiết tốt, quanh năm bảy chiếc xa quay sợi, những tiếng hát hay qua những câu đối đáp tài tình, tao nhã của hai phe nam nữ đã lôi cuốn được bao nhiêu người, từ những người tầm thường đến những bậc cự nho như Tú San, Mền Cơ (tú tài Hoàng Đình Thực ở xã Thịnh Lạc), Giải San…
Ở thôn Bố Đức, kế cận rú Dồi, vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, có một người hát phường vải hay nổi tiếng là tú tài Lê Đinh San (hay Sách) mà người ta thường gọi Tú San (hay Tú Sách) hoặc Hàn San (hay Hàn Sách) đã để lại trong dân gian nhiều câu hát lưu truyền đến ngày nay.
Đề tài hát phường vải thường xoay xung quanh chuyện tình yêu, hỏi thăm tên tuổi, thử tài kiến thức.
Mở đầu cuộc vui bao giờ cũng là câu hát chào: Đến đây đông thật là đông
Chào bên nam thì mất lòng bên nữ
Chào quân tử thì sợ dạ thuyền quyên
Em chào chung một tiếng kẻo chào riêng bạn cười… Câu hát xe duyên: Thiếp thương chàng, đừng cho ai biết
Chàng thương thiếp đừng để cho ai hay
Rồi ra miệng thế lắt lay
Cực chàng chín rượi (rưỡi), khổ thiếp đây mươi phần. Có chàng trai than thở khi người yêu đi lấy chồng: (Chơ) Anh đến giàn hoa thì hoa kia đạ (đã) nở.
Anh đến bến đò thì đò đạ sang sông
Anh đến tìm em thì em đạ lấy chồng
Em yêu anh như rứa, hỏi có mặn nồng lấy chi… Cô gái đáp: (Chơ) Anh đến giàn hoa, hoa đến thì thì hoa phải nở.
Anh đến bến đò, đò đầy thì đò phải sang sông
Đến duyên em, cha mẹ gả thì em phải lấy chồng
Dừ (giờ) trách nhau chi lắm nựa (nữa) để cực lòng nhau thêm… Có anh đi hát phường vải, chẳng may đường trơn bị ngã. Các cô trong nhà cười ầm và hát vọng ra: - Đến đây hò hát làm thân
Cúi đầu bái lạy trước sân làm gì? Chàng trai là người thông minh, cũng chẳng vừa: - Đất đâu có đất lạ lùng
Đứng thì chẳng chịu, nằm cùng thì cho!
Với cái anh bạo mồm như vậy, còn ai dại trêu làm gì nữa. Có cô gái bị một chàng trai khinh bỉ, cô liền trả đũa ngay: - Thầy mẹ em còn chọn đá để gửi vàng
Không dư con gái , để gả cho chàng ngu si. Khi đọ sức thử tài, gặp người tự xưng hay chữ, liền bị các cô thách: - Đất Đông Thành đồn rằng chàng : "Hay trự "
Vậy thiếp hỏi chàng: " thầy Mạnh Tử con ai ?" Sách Nho thường nói thầy Mạnh Kha là con bà Mạnh Mẫu, người đã có công dạy con thành bậc thánh hiền, còn ông cha thì mất sớm, không ai để ý tới tên họ. Có người tức các thầy gà (thông sự) liền hát đáp: - Thầy Mạnh là do cụ Mạnh sanh ra
Tổ mẹ đứa hát, tổ cha đứa bày! Hát phường vải có truyền thống lề lối đàng hoàng. Câu văn nghiêm chỉnh, đúng niêm luật, thơ lục bát phần đông nhưng có khi biến thể. Người hát phải làm cùng nghề kéo bông. Con trai khi đến hát phải đứng ở ngoài đường. Khi nào qua được chặng đầu (hát dạo, hát chào), và chặng nhì (hát đố ) thì mới được mời vào bên trong nhà tiếp tục hát xe kết trước khi hát tiễn . Ngày xưa Nguyễn Công Trứ, Phan Bội Châu có tham dự với tính cách thông sự cuộc thi hát phường vải và đặt lời cho nhiều bài hát. Hát phường vải với mức sáng tác dồi dào mỗi lần có cuộc gặp gỡ đã mang lại cho nền văn chương bình dân nhiêù bài hát nhất . Rất tiếc là ngày nay hát phường vải đã đi vào quên lãng với ngành dệt vải đã "được" (hay "bị") kỹ nghệ hóa từ gần nửa thế kỷ.
Kim Liên quê Bác cũng là một cái nôi ví phường vải nổi tiếng của Nghệ An. Câu lạc bộ phường vải mới thành lập lại. Khi có người làng khác đến chơi, tiếng hát ở trong nhà vọng ra níu chân khách: - Nhất vui là cảnh Kim Liên
Cảnh đà có cảnh, người tiên có người… Trong hát đối có hát đố, và những câu đố thường rất hóc búa: - Sơn sơn xuất, anh hùng hào kiệt
Gái nữ nhi ngồi trong bóng nguyệt
Nguyệt nguyệt bằng quân tử trượng phu
Chàng mà đối được, em xin làm du (dâu) nhà chàng. Đây là câu hát đố chữ, đố không khó vì hai chữ sơn là một chữ xuất, hai chữ nguyệt là một chữ bằng, nhưng khó là ở đối lại.
Chuyện các văn nhân tài tử hát thua các thôn nữ quê mùa không hiếm, ngay cả Giải San Phan Bội Châu cũng nhiều phen lúng túng: - Đưa chàng một nắm ngô rang
Đúc mô cho mọc thiếp theo chàng làm du
- Nơi nào nắng mãi không khô,
Mưa lâu không thấm, đúc vô mọc liền. Cho nên sĩ tử đất Nghệ Tĩnh trước khi đi thi thường hay tập dượt văn sách với phường vải, để chị em kiểm tra: - Đồn đây có gái hát tài
Để ta đối địch một vài trống canh
Dẫu thua dẫu được cũng đành
Bõ công đèn sách học hành bấy lâu. Trong ví phường vải, hát hỏi (hát đố, hát đối và hát xe duyên (hát tình, hát xe kết)) là để lại nhiều áng văn chương hay nhất. Con gái Nghệ Tĩnh vốn yêu thơ ca, con nhà nông có, con nhà khoa bảng có, khi hát đố sách, đố chữ, có khi hát đố về thực tế. Có khi là "Truyện Kiều anh thuộc làu làu, Đố anh đọc được một câu hết Kiều", có khi là câu đố đố hóc búa:
Năm con ngựa cột cồn Ngũ Mã
Chín con rồng nằm Cửu Long Giang
Chàng mà đối được, có lạng vàng em trao… Hay: Con kiến đất leo cây thục địa
Con ngựa trời ăn cỏ chỉ thiên
Anh mà đối được, gái thuyền quyên xin về Nhưng những chàng trai xứ Nghệ cũng thông minh không kém, đối đáp tức thì (nếu không đối được thì tiếng sẽ lan khắp vùng): Ngàn con voi chầu chùa Thiên Tượng
Tám con gà cúng cỗ bát kê.
Có thật tâm thì em ắt lời thề
Anh đây đà đối được, lạng vàng về tay ai? Có khi là câu đố về việc nhà nông: Đến đây hỏi khách nhà nông
Một trăm mẫu ruộng mấy công cày bừa? Có khi là một câu đố về lễ nghĩa, đặt người con trai vào một tình huống cực kỳ nan giải:
Đành rằng anh học đã cao.
Hỏi chị dâu rớt giếng, anh nắm chỗ nào kéo lên?
Có anh trả lời ngay được, với giải pháp thông minh cứu được chị mà không thất lễ: - Chị dâu mà rớt xuống giếng
Anh tìm miếng để cứu chị lên
Nắm đầu thì sợ tội trời
Hai tay nâng đỡ, sợ lời thế gian
Nhanh tay liền bắc cái thang
Kéo chị dâu một thuở kẻo chết oan con người
Có anh không biết làm gì cả, đành la làng: - Nắm đầu thì khổ
Nắm cổ thì không nên
Nắm chân tay thì lỗi niềm huynh đệ
Vậy thì anh cứ van làng là hơn!
Ví phường vải là một thể vừa định hình vừa không câu thúc bởi điều gì, thậm chí không cần đến một nhạc cụ nào nên sức sống của nó rất lâu bền, dù canh cửi giờ đây không còn nữa. Chính người phụ nữ là người nuôi đạo lý, giữ gìn nền nếp, gia phong, hương tục, rộng ra là bản sắc văn hoá Việt Nam. Vai trò cao quí của người phụ nữ là ở chỗ đó. Người phụ nữ xứ Nghệ rất bình đẳng với nam giới và có tính cách cứng cỏi, mạnh mẽ. Để được giải phóng, họ dám phát biểu, đương đầu và không lệ thuộc vào những giáo điều. Người ta hay chê kẻ đứng núi này trông núi nọ. Họ nói: - Trèo lên Rú Bụt, trụt xuống Khe Giao
Đứng núi này trông núi nọ, núi mô cao em trèo Vì tình, họ chấp nhận: - Tưởng là cha mẹ đập một vài ba roi
Ai ngờ đập đến chín chục, một trăm roi
Em bò lăn bò lóc, em khóc đứng khóc ngồi
Anh ơi dù bầm lưng máu chảy, vẫn trọn đời yêu anh.
Trong kho tàng tục ngữ, ca dao vùng này có câu giận, câu thương, câu chán, câu hờn nhưng xét về tần số thì câu thương, câu nhớ, câu nghĩa, câu tình vẫn đậm đặc hơn cả. Khi sáng tác thì rất phong phú, đa dạng. Qua thời gian, tức là qua sự chọn lựa của con người, thì cái mà người Việt Nam muốn truyền cho nhau vẫn là tình - nghĩa (hơn cả kinh nghiệm sản xuất). Tình - nghĩa ấy ở vùng đất vốn nhọc nhằn này như được cô nén hơn, thống thiết hơn.
Xin trời hãy nắng khoan mưa
Cho dâu xanh bãi, cho vưa lòng tằm - Khi mô cho đến tháng mười.
Đọi cơm khúc cá vừa cười vừa ăn… Với người yêu: - Đã thương thì thương cho chắc
Đã trục trặc thì trục trặc cho luôn
Đừng như con thỏ nọ nó đứng đầu truông
Khi vui giỡn bóng,
Khi buồn bỏ đi… - Thương em răng được thì thương
Đừng trao gánh nặng trửa (giữa) đường tội em.
- Cầm vàng mà lội qua rào.
Vàng ri không tiếc, tiếc bộ má đào của em… Với chồng: - Nghe tin anh đau đầu chưa khá
Em băng rừng bẻ lá về xông
Mần răng cho trọn đạo vợ chồng
Đổ mồ hôi em quạt, trộ gió lồng em che… Với con: - Mấy lâu buôn bán nuôi ai
Mà áo em rách, mà vai em mòn ?
- Mấy lâu buôn bán nuôi con
Áo rách mặc áo, vai mòn mặc vai…
Với cha mẹ: - Cá bống chặt trốc (đầu), chặt đuôi
Tôm he bóc vỏ mà nuôi mẹ già.
- Mỗi đêm thắp một đèn trời
Cầu cho cha mẹ ở đời với con. Với đồng bào, lối xóm: - Xung quanh những họ cùng hàng
Coi nhau như ngọc như vàng mới nên… Người Nghệ chất phác, điều ấy ai cũng biết. Nhưng không phải không tinh tế.
Tinh tế và mặn mà ám ảnh đến mức tâm trạng thành cổ điển trong văn học sử: - Sáng trăng ngồi gốc cây mai
Bóng mình lại tưởng bóng ai tìm mình
- Ra về sương xuống đầm vai
Ngoảnh nhìn trở lại, bóng ai tờ mờ - Ra về ngước mắt trông chừng
Ngóng truông truông rậm, ngóng rừng rừng xa.
Người ta nói người Nghệ bảo thủ. Người phụ nữ không biết làm duyên, làm dáng. Cũng có thể: - Khăn nâu áo vải là thường
Cốt trau cho được luân thường là hơn.
Nhưng không phải là phản đối sự điểm trang. Trau chuốt như cách nói ngày nay là không được chú ý lắm. Âu cũng là cái phải bổ khuyết. Nhưng về cơ bản thì đúng. Họ từng nói: "Điểm trang nhã nhặn là hay", nhưng phải phù hợp với hoàn cảnh chớ đừng: - Mẹ em hết gạo treo nồi
Em còn trang điểm chạc lưng sồi làm chi Có xưa quá chăng, có hoài cổ quá chăng? Từ lâu, khi mới cầm bút vào nghiệp văn chương, tôi hằng nghĩ về bản sắc văn hoá dân tộc, tính cách người Việt. Đã đành, trong máu sinh ra là đã có rồi. Nhưng học nhiều, đi nhiều thì càng thêm thấm thía, mới vào trong cốt tuỷ. Tôi nay hoa râm mới lại đi học những bài học đầu tiên về nhân dân.
| |
|
|

Chọi gà (theo cách gọi Bắc) hay đá gà (theo cách gọi miền Nam ) đã trở thành thú vui dân gian từ nhiều thế kỷ. Vì vậy, chọi gà không chỉ là một mục trong trò chơi ngày hội, mà còn là một thú vui chơi thông thường của nhiều người ở đô thị cũng như nông thôn.
Trước cách mạng tháng 8-1945, nhiều "trường gà" đã được thiết lập ở khắp nơi, thu hút đông đảo khách có máu mê ăn thua cờ bạc. Sách vở xưa cũng từng bàn về chọi gà và gà chọi. Từ thế kỷ thứ XII, Hưng Ðạo Vương Trần Quốc Tuấn, trong bài hịch tướng sĩ cũng đã từng cảnh tỉnh những ai đắm mình vào thú vui này trong lúc "quốc gia hữu sự":"Cựa gà sắc khôn đâm giáp giặc"...
Ðể có được con gà chọi hay đòi hỏi người phải có công phu và kinh nghiệm, từ việc chọn giống gà, gây giống, xem tướng gà, nuôi dưỡng, luyện tập v.v... Câu ngạn ngữ "Gà tại nó, chó tại ta " ý là gà trước hết phải là gà giống, rồi mới đến kết quả công rèn luyện. Hoặc "chó giống cha, gà giống mẹ" ...
ở miền Bắc, có những địa phương cung cấp giống gà nổi tiếng như Ðình Bảng, Thổ Hà, Yên Phụ (Hà Bắc), Tây Phương (Hà Tây), Nghĩa Đô, Nghi Tàm (Hà Nội). Ở Nam bộ có gà Cao Lãnh (Ðồng Tháp), Bà Ðiểm (TP Hồ Chí Minh), Bà Rịa...
Chọi gà là thú vị dân gian có sức thu hút đông đảo quần chúng rất nhanh, còn việc chăm sóc, chọn lọc, nuôi dưỡng huấn luyện gà thì lại thuộc về một tầng lớp người có có điiêù kiện. Trong chiều sâu tâm tưởng của nhiều người, trò chơi chọi gà có thể vừa mang tính giải trí, vừa là một hình thức nuôi dưỡng tinh thần thượng võ, chất keo gắn kết tinh thần cộng đồng đã từng tồn tại trong một thời gian khá dài trong các hội làng xưa.
www.vietnamtourism.com
|
|
|
| |
| Hát ví vùng Nghệ Tĩnh là một loại hát đối nam nữ rất được phổ thông trong dân quê. Tục hát ví thinh hành nơi thôn quê, mà cả các nho sĩ cũng ham chuộng và đóng góp nhiều qua sự sáng tác lời. Có khi dùng lời cũ để hát. Có khi sáng tác lời mới. Những ai không biết hát cũng thích đi dự buổi hát ví để nghe người khác hát, theo dõi lời ca, thưởng thức giọng hát. Hát ví Nghệ Tĩnh, ngoài những câu hát trao tình, và những câu hát nói lên tâm trạng của trai gái, còn có những câu hát đố rất tế nhị và hóc búa, với những câu trả lời thật tài nói lên tài ứng khẩu nhạy bén của đôi bên nam nữ .
Cô Xuân đi chợ Hạ
Mua cá Thu về chợ hãy còn Đông,
Trai nam nhi đối được, gái má hồng xin theo.
Đối:
Anh ở bên Nam
Sang bán hàng thuốc Bắc,
Chữa con gái Đông phòng cảm bệnh miền Tây
Ông Tơ Hồng , bà Nguyệt Lão như anh sang đây kết nguyền.
Hát ví là thú giải trí của người dân quê Nghệ Tĩnh sau một ngày mệt nhọc làm việc ngoài đồng. Có nhiều việc làm cũng có tục hát ví như hát phường vải ở Nam Đàn (Nghệ An), Hát phường chiếu ở Can Lộc (Hà Tĩnh), hát vá lưới ở các bờ biển, hát phương buôn ở các vùng kẻ chợ, hát phương cấy trong các vụ gặt cấy,vv..... Hát các phường là lối hát đặc biệt của vùng Nghệ Tĩnh, là một biến thể của hát ví và được ca hát trong khi làm việc thuộc các nghề thủ công và làm ruộng. Tại vùng Nghệ Tĩnh, các nghề nghiệp được tổ chức thành phường, và những phường này có những cuộc ca hát với nhau trong khi làm việc. Phường cấy và phường vải là có tổ chức nhứt trong việc ca hát có lề lối.
Hát phường củi, hay đúng hơn là hát chặt củi vì người hát trong lúc đi chặt củi trong rừng. Nghệ Tĩnh là vùng rừng núi nhiều cây cối. Người dân quê thường rủ nhau vào rừng đốn củi sau mùa gặt. Vừa chặt củi, thỉnh thoảng có tiếng hát lên tả nỗi nhớ thương rừng núi nhưng tập trung nhiều hơn về yêu đương.
Tiếng ai nói với bên non
Muốn sang coi thử có dòn hay không?
Có hỏi thì có trả lời:
Một ngày hai bận trèo non
Lấy gì mà đẹp mà dòn hỡi anh !
Ngày nay, lối hát ví vẫn được bảo tồn tại Nam Đàn, nhất là vào những dịp lễ hội. | |
| |
| Về đầu trang |
| |
|